các bệnh hô hấp thường gặp
LƯỢT TRUY CẬP
Trực tuyến69
Lượt truy cập hôm nay141
Tổng lượt truy cập1'225'161

Ung thư phổi

TS.BS. Lê Khắc Bảo – Giảng viên Đại học Y Dược TPHCM

Phó khoa hô hấp Bệnh Viện Nhân Dân Gia Định

Cố vấn Trung tâm điều trị bệnh hô hấp Phổi Việt

 

 

TÓM TẮT
Ung thư phế quản (thường gọi là ung thư phổi) là loại ung thư thường gặp nhất ở nam giới. Ung thư phế quản là sự tăng sinh ác tính của tế bào biểu mô phế quản. Nguyên nhân của ung thư phế quản đến nay chưa rõ nhưng người ta thấy hút thuốc lá là yếu tố nguy cơ hàng đầu. Triệu chứng lâm sàng ung thư phế quản rất đa dạng; thay đổi từ không có triệu chứng gì chỉ được phát hiện tình cờ khi chụp X quang phổi kiểm tra cho đến các triệu chứng lâm sàng thông thường vẫn gặp trong các bệnh lý hô hấp khác như là ho, khó thở, đau ngực, khò khè cho đến các triệu chứng gợi ý nhiều đến ung thư phế quản như là ho ra máu, đau nhức xương, gầy sút suy kiệt. Các xét nghiệm hình ảnh học bao gồm X quang, CT scan phổi giúp xác định vị trí tổn thương, sinh thiết mô tổn thương làm xét nghiệm giải phẫu bệnh học giúp chẩn đoán chắc chắn bệnh. Ung thư phổi là bệnh không thể chữa khỏi được trừ khi được chẩn đoán và can thiệp vào giai đoạn sớm. Đối với ung thư phổi giai đoạn tiến triển nặng hơn, điều trị chủ yếu nhắm đến mục tiêu giảm nhẹ triệu chứng, nâng cao chất lượng cuộc sống và kéo dài thời gian sống thêm. Cách điều trị ung thư phế quản tốt nhất là tránh mắc ung thư phế quản bằng cách không hút thuốc lá nếu chưa hút hay đã cai thuốc lá, cai thuốc lá nếu đang hút thuốc lá kết hợp với theo dõi khám sức khỏe hô hấp thường xuyên để phát hiện và điều trị sớm ung thư phế quản nếu có.

 

Nội dung chi tiết:

1.  Ung thư phế quản là gì?

2.  Triệu chứng lâm sàng ung thư phế quản   Hình ảnh lá phổi bị ung thư

3.  Triệu chứng cận lâm sàng ung thư phế quản

4.  Điều trị ung thư phế quản

 

1.      Ung thư phế quản là gì?  

Ung thư phế quản là bệnh của tế bào biểu mô phế quản. Bình thường các tế bào phế quản được sinh ra, phát triển thực hiện các chức năng của chúng sau đó sẽ chết theo một chương trình định sẵn được gọi là quá trình chết tế bào theo chương trình.
Ung thư phế quản xảy ra khi các tế bào biểu mô phế quản tăng trưởng không kiểm soát được nữa, tế bào tăng lên thật nhanh chóng về số lượng, tuy nhiên các tế bào được sinh ra không đảm bảo chức năng bình thường như các tế bào biểu mô phế quản thông thường khác, ngược lại xâm lấn vào các cơ quan tổ chức lân cận và sau đó là xâm lấn đi xa làm rối loạn chức năng của các cơ quan tổ chức mà tế bào ung thư này xâm lấn vào.
Tổn thương tế bào biểu mô phế quản chính là các tổn thương vật chất di truyền nằm trong gen trong nhân tế bào. Vật chất di truyền trong gen chính là các phân tử DNA. Các phân tử này bị đột biết dưới tác động gây đột biến từ môi trường bên ngoài ví dụ chất độc trong khói thuốc lá. Các DNA bị đột biến sẽ chỉ huy tế bào tăng sinh bất thường và sinh ra ung thư.
Các tế bào ung thư phế quản ban đầu chỉ khu trú tại chỗ ngay nơi tổn thương tại phế quản làm cho vùng phế quản nơi bị ung thư không còn đảm bảo được chức năng vận chuyển không khí nữa. Sau đó khi các tế bào ung thư tiếp tục sinh sôi nảy nở sẽ tạo thành khối u chèn ép và gây rối loạn chức năng vùng phế quản lân cận. Tiếp sau đó nữa tế bào ung thư đi theo mạch máu và mạch bạch huyết đến các nơi xa hơn nữa trong cơ thể, lúc này người ta nói ung thư di căn. Tế bào ung thư phế quản có thể di căn vào não, xương, gan, thượng thận, da v.v. và đến lượt các cơ quan này bị rối loạn chức năng. Hậu quả là cơ thể sẽ suy kiệt, giảm chức năng và cuối cùng tử vong.
 

 

2.   Triệu chứng lâm sàng ung thư phế quản:

Triệu chứng của ung thư phế quản rất đa dạng và tùy theo giai đoạn tiến triển của bệnh mà số lượng các triệu chứng có thể nhiều hay ít.
Ung thư phế quản giai đoạn đầu tiên thường là không có triệu chứng gì cả: Người ta nhận thấy có đến 5 – 15% bệnh nhân ung thư phổi lúc được phát hiện là không hề có triệu chứng lâm sàng gì cả. Những người này được phát hiện là hoàn toàn tình cờ khi đi chụp phim X quang phổi kiểm tra sức khỏe định kỳ hàng năm.
Ung thư phế quản giai đoạn tiến triển kế tiếp sẽ có triệu chứng. Những triệu chứng trong giai đoạn này có thể kể ra như sau:
Ho: là triệu chứng khởi đầu thường gặp nhất. Đa số bệnh nhân đều bỏ qua triệu chứng này, họ cho rằng ho là do hút thuốc lá (lưu ý rằng đa số bệnh nhân ung thư phế quản có hút thuốc lá). Ung thư phế quản cũng có thể xuất hiện ngay trên bệnh nhân bị COPD và bệnh nhân COPD sẽ không nghĩ rằng ho là do ung thư phế quản mà cứ cho rằng ho là do COPD. Như vậy những điểm của triệu chứng ho trên người hút thuốc lá, người bị COPD gợi ý họ có thể bị ung thư phổi sẽ là sự thay đổi tính chất ho: ho tự nhiên nhiều hơn bình thường, thời gian một cơn ho có thể dài hơn, số lượng đàm có thể nhiều hơn, đàm có mủ hay tái đi tái lại hơn so với trước đây, có thể ho ra đàm vướng máu.
Ho ra máu: là một triệu chứng báo động quan trọng. Khác với ho đơn thuần, triệu chứng ho ra máu ít khi bị bỏ qua và bệnh nhân thường đến gặp ngay bác sỹ khi thấy có ho ra máu. Triệu chứng ho ra máu khá đặc hiệu cho ung thư phế quản vì thế khi bệnh nhân > 40 tuổi, có hút thuốc lá, lại ho ra máu thì nên đến khám bác sỹ để được chỉ định nội soi phế quản chẩn đoán.
Khó thở: là triệu chứng xuất hiện muộn hơn trong tiến triển của ung thư phế quản, tuy nhiên do khó thở xuất hiện từ từ lại trên bệnh nhân lớn tuổi nên cũng thường bị bỏ qua vì cho rằng khó thở này do tuổi già, do COPD. Khó thở xuất hiện khi khối u đã lớn làm tắc nghẽn phế quản, làm xẹp một vùng phổi, hoặc do khối u xâm lấn ra màng phổi làm tràn dịch màng phổi.
Đau ngực: cũng là triệu chứng gợi ý ung thư phế quản, đặc điểm đau ngực trong ung thư phế quản ban đầu là đau ngực dai dẳng, mơ hồ không rõ vị trí, sau đó là đau ngực nhiều gây khó chịu, có thể bị chẩn đoán nhầm thành đau thần kinh liên sườn, đau cơ .v.v.
Ung thư phế quản giai đoạn muộn, có di căn thường có các triệu chứng sau:
Ung thư phế quản di căn trung thất: là khi các tế bào ung thư phế quản xâm lấn vào các cơ quan nằm trong trung thất (các cơ quan trong lồng ngực nằm giữa hai lá phổi). Nếu tĩnh mạch chủ trên bị xâm lấn làm máu không chạy về tim được, bệnh nhân có thể có chóng mặt, ù tai, nhức đầu, tím tái ở mặt và phần trên ngực. Nếu động mạch chủ bị xâm lấn có thể gây vỡ động mạch chủ gây tràn máu màng phổi và đột tử. Nếu thần kinh quặt ngược thanh quản trái bị xâm lấn, bệnh nhân có thể bị liệt dây thanh âm gây khàn tiếng, giọng đôi. Nếu thần kinh hoành bị tổn thương, bệnh nhân có thể có triệu chứng nấc cụt, khó thở do liệt cơ hoành. Nếu thực quản bị tổn thương, bệnh nhân có thể có nuốt khó, sặc, nuốt nghẹn.
Ung thư phế quản di căn màng phổi: là triệu chứng thường gặp, thường là tràn dịch màng phổi lượng nhiều, lượng dịch tái lập nhanh sau khi chọc dò.
Ung thư phế quản di căn thành ngực: tạo thành khối u trên thành ngực, gây đau nhức dữ dội.
·               Ung thư phế quản di căn hạch: các hạch trên đòn, hạch nách có thể sưng to, cứng, không đau.
Ung thư phế quản di căn cơ quan xa: bao gồm các cơ quan như:  tuyến thượng thận, não, gan, xương, da.
 

3.   Triệu chứng cận lâm sàng ung thư phế quản:

A.    X quang lồng ngực:
Một số trường hợp ung thư phế quản được phát hiện tình cờ khi chụp X quang kiểm tra sức khoẻ. Vì thế trên mọi người lớn hơn 40 tuổi có hút thuốc lá, nên khám sức khỏe định kỳ có chụp X quang phổi cho dù không có triệu chứng gì. Hoặc khi nào có triệu chứng hô hấp  bất kỳ cũng nên khám để được kiểm tra.
Các hình ảnh của ung thư phế quản có thể thấy được trên phim X quang phổi bao gồm: nốt mờ, khối mờ trong nhu mô phổi, có thể thấy hình ảnh trung thất nở rộng, hình bóng mờ ở rốn phổi hoặc hình ảnh tổn thương tràn dịch màng phổi. Tuy nhiên các hình ảnh trên X quang phổi chỉ gợi ý chứ không giúp chẩn đoán xác định.
B.     CT scan lồng ngực:
Khi nghi ngờ ung thư phế quản nên chụp CT scan lồng ngực có cản quang vì đây là xét nghiệm hình ảnh học rất đáng tin cậy trong chẩn đoán ung thư phế quản.
CT scan giúp định vị khối u, xác định những đặc tính hình ảnh học u, đánh giá thương tổn hạch trung thất, di căn phổi gan và thượng thận. Cũng như X quang phổi qui ước, CT scan lồng ngực giúp định hướng nhưng không phân biệt chắc chắn lành ác.
C.     Nội soi phế quản kết hợp sinh thiết:
Nội soi phế quản cho phép tiếp cận được khối u phế quản đặc biệt là khối u phế quản ở vị trí trung tâm , cho phép sinh thiết khối u để thực hiện xét nghiệm giải phẫu bệnh = tiêu chuẩn vàng để chẩn đoán ung thư phế quản.
D.    Các xét nghiệm cận lâm sàng khác:
Ngoài các xét nghiệm cận lâm sàng trên, tùy theo tình huống bác sỹ sẽ chọn lựa các xét nghiệm khác để chẩn đoán cũng như để hướng dẫn điều trị ung thư phế quản cho bệnh nhân.
 

4.     Điều trị ung thư phế quản:

Tùy theo đặc điểm mô học và giai đoạn tiến triển của bệnh ung thư phế quản mà người ta có thể áp dụng các biện pháp điều trị khác nhau.
  Thông thường nếu bệnh tiến triển xa thì không còn chỉ định điều trị triệt căn mà chỉ có điều trị bảo tồn mà thôi.
  Cần nhớ một điều là ung thư phế quản không thể điều trị khỏi hẳn được trừ khi bệnh được phát hiện vào  những giai đoạn thật sớm.
Mục tiêu điều trị ung thư phế quản như vậy là hướng đến việc làm giảm nhẹ triệu chứng, nâng cao chất lượng cuộc sống và kéo dài tuổi thọ.
Hai nhóm biện pháp điều trị ung thư phế quản gồm có điều trị triệt căn và điều trị bảo tồn. 
A.     Điều trị triệt căn:
Phẫu thuật là biện pháp duy nhất có thể chữa khỏi ung thư phế quản. Tuy nhiên vấn đề là phẫu thuật chỉ có hiệu quả khi bệnh nhân đến khám bác sỹ vào giai đoạn sớm. Vì thế vấn đề cốt lõi là bệnh nhân phải được khám, làm xét nghiệm để chẩn đoán ung thư phế quản thật sớm.
Xạ trị là phương pháp dùng tia phóng xạ chiếu vào khối u để tiêu diệt tế bào ung thư. Khi bệnh nhân mắc ung thư phế quản nhưng không thể phẫu thuật được, xạ trị có thể thay thế cho phẫu thuật. Người ta cũng có thể kết hợp xạ trị sau phẫu thuật để giảm nguy cơ di căn xa, xạ trị phối hợp với điều trị bằng hóa chất để tăng hiệu quả điều trị. Ngoài ra trong trường hợp ung thư phế quản di căn xa quá gây đau đớn nhiều, có thể dùng xạ trị giảm đau do di căn xương, giảm triệu chứng di căn não, giảm chèn ép tĩnh mạch chủ trên do di căn trung thất, giảm triệu chứng ho ra máu do ung thư phế quản.
Hóa trị là phương pháp điều trị ung thư phế quản bằng hóa chất, sử dụng khi ung thư phế quản giai đoạn tiến triển xa không còn có chỉ định phẫu thuật nữa, hoặc là ung thư phế quản loại tế bào nhỏ, hóa trị cũng có thể dùng làm điều trị phối hợp với xạ trị và phẩu thuật để tăng cường hiệu quả điều trị. 
  B.     Điều trị bảo tồn:
Điều trị bảo tồn có ý nghĩa là không điều trị tấn công tế bào ung thư mà chỉ là điều trị nâng đỡ thể trạng bệnh nhân, điều trị giảm triệu chứng và nâng cao chất lượng cuộc sống.
Điều trị bảo tồn sẽ bao gồm nhiều phần việc như là: điều trị giảm đau, giảm ho ra máu, điều trị dinh dưỡng, hỗ trợ về mặt tâm thần kinh, điều trị chống trầm cảm .v.v